Bóng Nhạn Thành Thăng An
Chương 51: Trại Tị Nạn
Chương 51: Trại Tị Nạn
Cỗ xe ngựa phủ bạt kín mít xóc nảy trên con đường đất đỏ lầy lội, bỏ lại phía sau bến đò sương mù và những tiếng chó sủa đã vãn dần.
Bên trong xe, mùi hương liệu y tế hăng hắc bốc lên từ chiếc lư đồng nhỏ, xua đi phần nào mùi tanh tưởi của bùn sông. Nguyệt Trà ngồi thu mình góc xe, khoác trên người một tấm chăn bông khô ráo, ánh mắt đờ đẫn nhìn vị đại phu già đang hối hả rắc bột kim sang dược lên vết thương của Khắc Tuân. Hắn đã chìm vào một giấc ngủ sâu vì kiệt sức, lồng ngực vạm vỡ phập phồng đều đặn dưới lớp băng gạc trắng toát.
Phạm Trọng ngồi đối diện, đôi mắt già nua đong đầy xót xa. Lão không hỏi nàng về cảnh tượng trần trụi ban sáng, cũng không hỏi về sự gắn kết kỳ lạ giữa giọt máu Đinh gia và con ác thú triều đình. Lão chỉ ra lệnh cho phu xe quất roi thật mạnh, hướng về một vùng núi non hẻo lánh phía Tây kinh thành.
Qua một canh giờ, xe ngựa rẽ vào một trang viên rộng lớn được bao bọc bởi những rặng tre ngà rậm rạp và những bức tường đá ong rêu phong.
"Tới nơi rồi." Phạm Trọng vén rèm, đỡ Nguyệt Trà bước xuống. "Đây là Điền trang, nơi lão phu dùng để cưu mang những gia quyến của các vị quan lại bị Đông Xưởng và Mật Thám Hoàng Gia hãm hại mười năm qua. Nơi này tuyệt đối an toàn."
Nguyệt Trà ngước nhìn. Điền trang không hào nhoáng, nhưng tấp nập bóng người. Có những góa phụ đang phơi thuốc Nam, những đứa trẻ mồ côi gầy gò đang đan rổ rá, và cả những người đàn ông cụt chân, cụt tay vì những đòn tra khảo tàn khốc của ngục tối. Bọn họ đều là nạn nhân của thời cuộc, của lưỡi đao mà Khắc Tuân đã vung lên.
Thật trớ trêu. Nơi trú ẩn duy nhất cứu mạng Hưng Quận công lúc này, lại chính là sào huyệt của những kẻ căm thù hắn đến tận xương tủy.
Phạm Trọng khéo léo cho người cáng Khắc Tuân vào một gian phòng biệt lập ở hậu viện, căn dặn tuyệt đối không để ai tiếp cận ngoại trừ vị đại phu thân tín. Nếu những người tị nạn ở đây biết kẻ đang nằm thoi thóp kia là ác thú Trần Khắc Tuân, họ sẽ xé xác hắn ra thành trăm mảnh.
Nguyệt Trà được thu xếp nghỉ ngơi tại một căn sương phòng nhỏ sạch sẽ. Nàng được tắm gội bằng nước lá mùi già ấm áp, tẩy sạch lớp bùn dơ bẩn và mùi cá ươn, thay một bộ y phục bằng vải thô màu tro.
Khi nàng vừa chải xong mái tóc dài vẫn còn ẩm nước, tiếng gõ cửa cất lên lốc cốc.
Một bà lão lưng còng, vận áo tứ thân sờn rách, bưng một khay gỗ đựng bát cháo gà nóng hổi bước vào. Mùi hành hoa và tiêu sọ thơm lừng tỏa ra, đánh thức cái dạ dày đã trống rỗng suốt một ngày một đêm của Nguyệt Trà.
"Tiểu thư... mời dùng chút cháo nóng cho ấm bụng." Giọng bà lão khàn khàn, run rẩy.
Nguyệt Trà quay lại định đỡ lấy khay cháo, nhưng bàn tay nàng khựng lại giữa không trung.
Khuôn mặt bà lão nhăn nheo, chằng chịt những vết sẹo bỏng gồ ghề kéo dài từ trán xuống tận cằm. Đáng sợ hơn, con mắt bên trái của bà chỉ còn là một hốc thịt lõm sâu, đục ngầu, trong khi con mắt phải vẫn cố gắng nheo lại để nhìn cho rõ khuôn mặt của vị khách mới đến.
Nguyệt Trà nín thở. Ký ức tuổi thơ ùa về như một cơn lốc. Vết sẹo bỏng đó, dáng đi còng còng đó...
"Vú Tám..." Nguyệt Trà run run thốt lên, giọng nói nghẹn ngào như vỡ vụn.
Bà lão giật nảy mình. Khay gỗ trên tay bà chao đảo, bát cháo sóng sánh suýt đổ ụp xuống đất nếu Nguyệt Trà không kịp lao tới đỡ lấy. Đôi bàn tay gầy guộc, đầy những vết chai sần của bà lão run lập cập vươn ra, quờ quạng chạm vào gò má, vào sống mũi, rồi nấn ná ở khóe môi có vết sẹo nhỏ của Nguyệt Trà.
Con mắt phải duy nhất của bà lão trừng lớn, những giọt nước mắt đục ngầu trào ra, lăn dài trên những vết sẹo bỏng.
"Trà... Trà tiểu thư! Là Trà tiểu thư thật sao! Trời phật ơi..." Vú Tám khóc òa lên, nhào tới ôm chầm lấy Nguyệt Trà.
Hai bà cháu ôm nhau khóc nức nở giữa căn phòng nhỏ. Vú Tám từng là người hầu thân cận nhất của Đinh phu nhân, người đã bế ẵm Nguyệt Trà từ lúc lọt lòng. Đêm hỏa hoạn mười năm trước, vú Tám bị cột nhà đang cháy đè trúng, phỏng nặng và mù một mắt. Bà đã lê lết thoát ra khỏi đống tro tàn, được người của Phạm Trọng tìm thấy và đưa về đây nương náu suốt một thập kỷ qua.
"Lão nô tưởng tiểu thư đã bỏ mạng cùng lão gia và phu nhân rồi... Ông trời có mắt, Đinh gia vẫn chưa tuyệt tự!" Vú Tám vuốt ve mái tóc Nguyệt Trà, nấc lên từng hồi.
Sau khi bình tâm lại, vú Tám lau nước mắt, cẩn thận đi chốt chặt cửa phòng. Bà lão quay lại, run rẩy thò tay vào sâu trong dải yếm lụa cũ kỹ trước ngực, lôi ra một chiếc túi gấm nhỏ xíu đã ngả màu đen kịt vì khói lửa và thời gian.
"Tiểu thư..." Giọng vú Tám hạ xuống thành một âm thanh thì thầm bí mật. "Mười năm nay, lão nô không dám nói với ai, kể cả Phạm lão gia, vì sợ mang họa sát thân. Đêm đó, trước khi ngọn lửa thiêu rụi tất cả, lão nô đã tìm thấy lão gia nằm gục trong vũng máu ở thư phòng. Bên cạnh thi thể của ngài, lão nô nhặt được thứ này."
Bà lão mở miệng túi gấm, dốc vào lòng bàn tay Nguyệt Trà một vật thể nhỏ bé, cứng cáp.
Không phải ngọc bội, cũng không phải một mảnh của mộc bản. Đó là một khối gỗ đen mun nhỏ bằng ngón tay cái, được chạm khắc vô cùng tinh xảo.
Khi ánh sáng từ ngọn nến hắt vào, Nguyệt Trà nhìn rõ họa tiết trên khối gỗ. Một bông hoa năm cánh sắc lẹm, ở giữa bị xuyên thủng bởi một thanh đoản kiếm uốn cong. Cả người Nguyệt Trà như bị một thùng nước đá dội từ đầu xuống chân. Mùi hành hoa của bát cháo gà bỗng chốc trở nên tanh tưởi mùi máu. Nàng nhận ra họa tiết này, bởi nàng đã nhìn thấy nó trên những bức thư mật mà tên chỉ huy ở bến đò đánh rơi. Đó là ấn ký của Bạch Nhài!