Hôn Quân Cùng Ngốc Hậu
Chương 169: Lòng Dân Phương Nam
Chương 169: Lòng Dân Phương Nam
Một tháng rưỡi sau khi Hắc Thiết kỵ rời khỏi cổng thành kinh đô, khói bụi chiến tranh đã phủ kín bầu trời vùng ranh giới phương Nam.
Tương Châu, tòa thành sầm uất được mệnh danh là "cửa ngõ phía Bắc" của đất phong Lương Vương, vốn được cho là sẽ diễn ra một trận công thành đẫm máu. Thế nhưng, khi đại quân của Tiêu Cảnh Du vừa cắm trại cách thành mười dặm, những chuyện kỳ lạ đã xảy ra. Không có những loạt tên bắn xuống từ mặt thành, cũng không có vạc dầu sôi. Nửa đêm hôm đó, chính những người dân đen gầy gò, rách rưới bạo động bên trong, hợp sức cùng vài tốp lính canh mở toang cổng thành Tương Châu, quỳ rạp hai bên đường đón Hắc Thiết kỵ.
Khi Tiêu Cảnh Du cưỡi con chiến mã Ô Truy đen tuyền bước qua cổng thành, cảnh tượng đập vào mắt hắn không phải là sự trù phú của phương Nam như lời đồn đại. Đường phố xơ xác, người dân mặc áo rách vá chằng vá đụp, ánh mắt lộ rõ sự sợ hãi tột độ khi nhìn thấy lá cờ thêu hình kỳ lân của triều đình. Trong tâm trí họ, vị Hoàng đế đang cưỡi ngựa kia là một "bạo chúa khát máu" như lời tuyên truyền của Lương Vương. Họ mở cổng thành không phải vì yêu mến hắn, mà vì họ đã bị Lương Vương bóc lột đến mức thà chết dưới đao của bạo chúa còn hơn chết đói.
Cảnh Du không hạ lệnh tàn sát, cũng không cho phép binh lính cướp bóc. Hắn tiến thẳng vào phủ nha Tương Châu, biến nơi đây thành hành dinh tạm thời. Tên Tri phủ – một tay chân thân tín của Lương Vương – đã ôm vàng bạc bỏ trốn trong đêm, để lại một mớ sổ sách thuế vụ mục nát chất đống trong thư phòng.
Suốt đêm hôm đó, dưới ánh nến leo lét, Tiêu Cảnh Du không bàn bạc chiến thuật quân sự, mà tự mình lật giở từng trang sổ cái của Tương Châu. Càng đọc, sắc mặt hắn càng trở nên lạnh lẽo.
Sáng hôm sau, Cảnh Du truyền lệnh triệu tập toàn bộ quan lại cấp thấp còn kẹt lại trong thành, cùng với hơn ba mươi vị bô lão đại diện cho các bá tánh ở Tương Châu đến sân phủ nha.
Đám người già cả run lẩy bẩy quỳ rạp dưới đất, trán đổ mồ hôi hột. Bọn họ đinh ninh vị bạo chúa trẻ tuổi sẽ ra lệnh tàn sát để thị uy.
Nhưng Tiêu Cảnh Du không mặc áo giáp, hắn chỉ mặc một bộ thường phục màu đen thêu rồng bằng chỉ chìm, phong thái uy nghiêm nhưng điềm tĩnh. Hắn ném một cuốn sổ cái xuống thềm đá.
"Trẫm hỏi các ngươi." Giọng Cảnh Du vang lên rành rọt, không hề có sự phẫn nộ thường thấy, mà chứa đựng một áp lực của bậc đế vương. "Đất phương Nam được thiên nhiên ưu đãi, một năm hai vụ lúa chín, tại sao kho lữ của Tương Châu trống rỗng, dân chúng lại phải ăn rễ cây và vỏ trấu?"
Một vị bô lão tóc bạc trắng run rẩy dập đầu, liều mạng đáp: "Bẩm... bẩm bệ hạ... mười năm nay, Lương Vương điện hạ ban hành 'Thuế Sắt'. Mỗi mẫu ruộng, ngoài việc nộp lúa cho triều đình, bá tánh phải nộp thêm ba đấu gạo để sung vào quỹ 'rèn nông cụ' của Vương phủ. Không chỉ vậy, những vùng đất màu mỡ ven sông đều bị các thân tộc họ hàng của Lương Vương vẽ lại bản đồ, chiếm đoạt làm điền trang riêng. Bá tánh mất đất, phải đi làm thuê trên chính mảnh ruộng của cha ông mình, đóng địa tô lên tới sáu phần... Thật sự không sống nổi nữa ạ!"
Cảnh Du nhếch môi cười lạnh. Hóa ra đây là cách "hiền vương" Tiêu Hoằng lấy tiền rèn vũ khí và nuôi mười lăm vạn tư binh. Hắn vắt kiệt máu mủ của bá tánh phương Nam, dùng danh nghĩa "rèn nông cụ" để nấu sắt đúc gươm giáo mưu phản. Còn cái danh "thương dân như con" của hắn chỉ là lớp sơn phết lừa bịp đám hủ nho trên triều đường.
"Lấy bút mực ra đây!" Cảnh Du quay sang phó tướng đứng cạnh.
Ngay tại sân phủ nha, trước sự ngỡ ngàng của đám quan lại và bô lão, Tiêu Cảnh Du không ra lệnh chém giết, mà bắt đầu thực hiện một cuộc cải cách triều chính long trời lở đất ngay trên vùng đất mới vừa thu hồi. Hắn cầm bút lông, tự tay viết lên một tấm lụa vàng bản chiếu chỉ sẽ làm thay đổi hoàn toàn cục diện phương Nam.
"Thứ nhất," Cảnh Du vừa viết vừa dõng dạc tuyên bố. "Từ hôm nay, bãi bỏ hoàn toàn 'Thuế Sắt' và mọi loại tạp phí do Lương Vương đặt ra. Bá tánh Tương Châu được miễn mọi loại thuế nông nghiệp trong ba năm tới để phục hồi sinh khí!"
Đám bô lão ngẩng phắt đầu lên, không dám tin vào tai mình.
"Thứ hai," Nét bút của Cảnh Du hạ xuống dứt khoát, mạnh mẽ như mũi kiếm. "Tịch thu toàn bộ điền trang, ruộng đất của Lương Vương và bè lũ tay sai. Trẫm ban hành 'Luật Quân Điền' phiên bản mới: Lấy đất của lũ tham quan, chia đều cho từng hộ nông dân dựa trên số nhân khẩu. Kẻ nào trước đây cày cấy trên mảnh ruộng nào, nay mảnh ruộng đó chính thức thuộc quyền sở hữu của kẻ đó, triều đình cấp ngay địa bạ (sổ đỏ) mới!"
Sân phủ nha chìm trong sự tĩnh lặng chết chóc trong vài giây, trước khi một tiếng khóc nức nở vang lên. Một vị bô lão dập đầu vỡ cả máu trán, gào lên: "Bệ hạ... Bệ hạ nói thật sao? Đất... đất về lại tay chúng dân sao?"
"Trẫm là thiên tử, kim khẩu ngọc ngôn." Cảnh Du ném cây bút lông đi, rút con dấu ngự tiền mang theo bên mình đóng mạnh vào tấm lụa. "Thứ ba! Mở kho quân lương của Hắc Thiết kỵ! Lấy ra năm vạn thạch lúa mạch mà Hoàng hậu đã chuẩn bị từ kinh thành, lập tức lập năm mươi vạc cháo lớn ở bốn cổng thành để cứu đói cho bá tánh Tương Châu!"
Ba đạo lệnh vừa ban ra, toàn bộ quan lại và người dân quỳ trên sân đồng loạt òa khóc. Những tiếng hô "Bệ hạ vạn tuế! Vạn vạn tuế!" vang lên chân thực và xé lòng nhất. Bọn họ từng sợ hãi một bạo chúa, nhưng hôm nay, họ mới thực sự nhìn thấy bóng dáng của một vị minh quân vĩ đại. Hắn không dùng gươm giáo để chinh phục Tương Châu, hắn dùng tài trị quốc xuất chúng và sự thấu hiểu nỗi khổ của dân đen để đập nát hoàn toàn gốc rễ của quân phản loạn.
Tin tức về cuộc "Cải cách ruộng đất và Thuế khóa" của Tiêu Cảnh Du lan truyền với tốc độ ánh sáng, vượt qua mặt trận của Hắc Thiết kỵ, đi sâu vào tận sào huyệt của Lương Vương.
Vũ khí dư luận từng bị Thẩm Mạn đánh bại ở kinh thành, nay lại bị Cảnh Du lật ngược để tấn công vào phương Nam. Đi đến đâu, các đạo chiếu chỉ cải cách của Cảnh Du được dán lên đến đó. Hiệu quả của nó còn khủng khiếp hơn cả hỏa pháo.
Chỉ mười ngày sau khi Tương Châu đầu hàng, ba tòa thành trì tiếp theo trên đường hành quân của Hắc Thiết kỵ đã xảy ra binh biến. Binh lính của Lương Vương phần lớn xuất thân từ nông dân mất đất. Khi nghe tin Hoàng đế sẽ tịch thu đất của địa chủ để chia cho dân nghèo, và quan trọng nhất là gia đình họ ở Tương Châu đã được nhận ruộng, nhận lúa gạo cứu đói, tinh thần chiến đấu của phiến quân sụp đổ hoàn toàn. Bọn họ trói gô các tướng lĩnh của Lương Vương, mở cổng thành dâng thành trì cho Cảnh Du.
Trong lều chỉ huy ngập tràn bản đồ chiến sự, Tiêu Cảnh Du mỉm cười hài lòng khi đọc các báo cáo quân tình. Hắn nhấc bút, viết một bức mật thư gửi về kinh thành cho Thẩm Mạn.
"Thê tử yêu dấu, Hậu cần của nàng chu toàn đến mức trẫm dư dả lương thực để lấy lòng thiên hạ. Sự thông tuệ của nàng ở tiền triều đã dạy trẫm một bài học: Diệt một kẻ thù không cần phải chặt đầu hắn, chỉ cần cướp đi thứ hắn dựa vào để tồn tại. Trẫm đang chặt đứt gốc rễ ruộng đất và lòng dân của Tiêu Hoằng. Chẳng bao lâu nữa, mười lăm vạn quân của hắn sẽ tan rã trước khi mũi giáo của Hắc Thiết kỵ chạm tới. Nhớ nàng và con rất nhiều."
Cùng lúc đó, tại sào huyệt Kiến Khang.
Lương Vương Tiêu Hoằng hất tung chiếc bàn gỗ lim, đập vỡ nát bộ ấm trà quý giá. Hắn vừa nhận được tin báo Tương Châu và ba tòa thành khác đã thất thủ mà không tốn một mũi tên.
"Bạo chúa! Hắn là một tên bạo chúa chỉ biết chém giết cơ mà!" Lương Vương gầm thét, hai mắt đỏ sòng sọc vò đầu bứt tai. "Tại sao hắn lại biết làm cải cách quân điền? Tại sao hắn lại dám chia đất của tầng lớp hào môn cho bọn dân đen hạ tiện? Lũ dân ngu ngốc kia tại sao lại tung hô hắn?"
Các mưu sĩ của Lương Vương đứng im thin thít, mặt tái nhợt. Bọn họ nhận ra một sự thật kinh hoàng: Tiêu Cảnh Du chưa bao giờ là một kẻ bạo ngược vô mưu. Hắn là một con rồng đang ẩn mình. Nay, con rồng đó đã thực sự vươn vẩy, dùng trí tuệ chính trị vượt bậc để cô lập Lương Vương.
Cuộc chiến vương quyền này, Lương Vương đã thua về mặt đạo lý từ khi Di chiếu giả bị bóc trần ở kinh thành, và giờ đây, hắn tiếp tục mất đi toàn bộ nền tảng xã hội và kinh tế ở phương Nam. Trận quyết chiến cuối cùng đang đến gần, nhưng chiếc thòng lọng đã được Tiêu Cảnh Du khéo léo tròng sẵn vào cổ kẻ phản nghịch.