Điền Viên Kiều Thê Làm Giàu Từ Mảnh Đất Cằn
Chương 2: Căn bếp lạnh lẽo và bát canh rau dại
Chương 2: Căn Bếp Lạnh Lẽo Và Bát Canh Rau Dại
Đợi bóng dáng cao lớn của Trần Đại Sơn khuất hẳn sau màn sương sớm, Lâm Vãn mới chậm chạp dời mắt. Toàn thân nàng nhức mỏi như bị ai đánh một trận tơi bời, từng khớp xương đều kêu rắc rắc phản nghị khi phải rời khỏi chiếc giường lò. Nàng chống tay lên mép bàn sứt chân, run rẩy đứng thẳng người.
Mặc dù đang là ban ngày, bên trong căn nhà vẫn tù mù tăm tối vì chỉ có một ô cửa sổ nhỏ xíu bằng nan tre rách nát. Lâm Vãn khẽ hít một hơi, gom góp chút sức tàn bước ra ngoài sân.
Cái lạnh của buổi sáng đầu đông xộc thẳng vào mặt khiến nàng khẽ rùng mình. Đập vào mắt nàng là một khoảng sân nhỏ lởm chởm đá cuội, mọc đầy cỏ dại. Xung quanh được bao bọc bởi một hàng rào đan bằng những cành cây khô, thấp lè tè chẳng ngăn nổi một con gà chứ đừng nói là cản trộm. Góc sân có một đống củi chẻ dở vứt lăn lóc bên cạnh chiếc rìu lưỡi đã mẻ.
Chẳng có lấy một con vật nuôi, không tiếng gà gáy, không tiếng lợn ụt ịt đòi ăn. Yên ắng đến tĩnh mịch.
"Thật là sạch sẽ đến đáng thương..." Lâm Vãn tự giễu, khóe môi khẽ nhếch lên thành một nụ cười đắng chát.
Nàng lần theo vách đất đi về phía chái bếp lợp lá cọ tồi tàn nằm ở bên hông nhà chính. Cửa bếp chỉ là một tấm phên nứa đan thưa thớt, bị gió thổi bay nghiêng ngả. Nàng đẩy phên nứa bước vào. Bên trong, một cái bếp lò đắp bằng đất đã nguội lạnh từ lâu, trên bếp đặt một chiếc nồi sắt hoen gỉ. Khắp nơi bám đầy nhọ nồi đen kịt, mạng nhện giăng mắc chằng chịt trên xà nhà như thể chốn không người.
Lâm Vãn lục lọi một vòng. Trên giá bếp có vài cái bát sành sứt mẻ, một đôi đũa tre mốc meo và một con dao phay cùn. Thùng gạo bằng gỗ đặt ở góc tường hoàn toàn trống rỗng, đến một hạt tấm cũng không sót lại. Trong chum sành bên cạnh chỉ còn xâm xấp một chút nước đục ngầu, phía trên phủ vài chiếc lá khô rụng xuống.
Đúng như Trần Đại Sơn nói, trong nhà đã hết sạch lương thực. Hắn vốn dĩ sống cảnh có bữa nay lo bữa mai, đi săn được gì thì đổi lấy gạo hoặc ăn cho qua ngày, nay lại đèo bồng thêm một người vợ đau ốm, tình cảnh càng thêm ngặt nghèo.
Bụng Lâm Vãn lại réo lên ùng ục, cơn đói cồn cào cào xé ruột gan khiến nàng suýt nữa ngất đi. Không thể cứ ngồi chờ chết đói được. Nàng là kỹ sư nông nghiệp, am hiểu thực vật cơ mà, lẽ nào lại chịu đầu hàng trước hoàn cảnh này?
Nàng đi ra sân, đảo mắt nhìn quanh quất. Ngay sát hàng rào nhà là một bãi đất trống rậm rạp cỏ dại. Trong số đó, ánh mắt nàng tinh tường nhận ra một vạt rau diếp dại (còn gọi là bồ công anh) mọc xanh um, lá to bản mướt mát nhờ hút sương đêm. Ở thời hiện đại, loại rau này thường được phơi khô làm trà thanh nhiệt hoặc trộn xà lách, vị hơi nhặng đắng nhưng rất mát, lại có tác dụng tiêu viêm, giải độc rất tốt cho cơ thể đang ốm yếu của nàng lúc này.
Không chần chừ, Lâm Vãn nhặt lấy con dao phay cùn trong bếp, lảo đảo bước ra hàng rào. Nàng tỉ mẩn cắt những đọt rau non nhất, bỏ đi phần lá già úa vàng. Chỉ chốc lát, nàng đã thu được một rổ tre nhỏ đầy ắp rau diếp dại xanh non.
Trở lại bếp, việc đầu tiên là phải nhóm lửa. Lâm Vãn lấy gáo múc nốt chút nước đục trong chum ra một chiếc chậu sành, cẩn thận rửa sạch từng lá rau dại. Nước rửa rau xong, nàng không đổ đi mà giữ lại để tưới cho vạt rau ngoài hàng rào. Nàng biết, ở cái thời đại nguyên thủy này, nước sạch quý như vàng mười.
Nhóm bếp mới là thử thách thực sự. Lâm Vãn lục tìm được một cái đá đánh lửa cũ kỹ đặt trên bệ lò. Nàng gom vài nắm bùi nhùi rơm khô, dùng đá đánh lửa cọ xát. Chát! Chát! Tia lửa tóe ra nhưng rơm lại hơi ẩm nên chỉ bốc lên những cuộn khói trắng mù mịt, sặc sụa khiến nàng ho rũ rượi, nước mắt giàn giụa.
Kiên nhẫn làm lại lần thứ ba, cuối cùng ngọn lửa nhỏ cũng bén lên. Lâm Vãn vội vàng vơ vài cành củi nhỏ bỏ vào, cẩn thận thổi nhẹ để nuôi lửa. Ánh lửa bập bùng hắt lên khuôn mặt lem luốc nhọ nồi của nàng, sưởi ấm căn bếp ẩm thấp và xua đi phần nào cái giá rét.
Nồi sắt trên bếp được rửa sạch, nàng đổ chút nước suối múc từ trong cái vò đất nhỏ ở góc bếp (có lẽ là nước sạch Đại Sơn xách về từ hôm trước) vào đun sôi. Đáng tiếc là nhà không có lấy một giọt dầu mỡ hay nửa hạt muối. Lâm Vãn đành phải nấu một nồi canh suông theo đúng nghĩa đen.
Nước vừa sủi bọt lăn tăn, nàng nhanh tay vặn nhỏ những đọt rau diếp dại thả vào. Rau tươi gặp nước sôi liền chuyển sang màu xanh ngọc bích mướt mắt, tỏa ra một mùi hương thanh mát ngai ngái đặc trưng của cỏ dại đồng nội. Nàng canh lửa vừa phải để rau chín tới mà không bị nát, giữ lại độ giòn ngọt tự nhiên.
Nàng dùng muôi gỗ múc canh ra hai chiếc bát sành đã được rửa sạch. Hơi nóng hổi bốc lên nghi ngút, xua tan đi sự lạnh lẽo trong căn bếp tồi tàn. Lâm Vãn tự bưng một bát, cẩn thận húp một ngụm.
Nước canh không muối nhạt nhẽo, mang theo vị nhặng đắng ở đầu lưỡi, nhưng khi nuốt xuống họng lại đọng lại một chút dư vị ngọt thanh, mát rượi. Rau diếp giòn sần sật, nhai kỹ thấy bùi bùi. Đối với một người đang lả đi vì đói như nàng, bát canh dại này ngon chẳng kém gì sơn hào hải vị.
Nàng ăn từ tốn, để thức ăn trôi xuống dạ dày, làm ấm dần cơ thể đang suy nhược. Bát canh thứ hai, nàng úp lên một chiếc đĩa mẻ, đặt phần trên bệ bếp củi để giữ ấm, chờ người đàn ông kia trở về. Dù hắn là thợ săn thô lỗ hay là trượng phu bị ép duyên, thì hiện tại, họ vẫn đang ngồi chung một con thuyền mang tên "sự sống".
Ăn xong bát canh, Lâm Vãn cảm thấy tay chân đã có thêm vài phần sức lực. Nàng bước ra hiên nhà, nhìn lên bầu trời âm u xám xịt của Thạch Đầu Thôn. Gió lùa qua kẽ lá xạc xào. Nàng hít sâu một hơi bầu không khí trong lành không chút khói bụi công nghiệp, ánh mắt hiện lên vẻ kiên định vững vàng.
Đã đến thế giới này rồi, phải sống, và phải sống cho thật tốt.