Giữa Hai Đỉnh Núi
Chương 14: Vòng khu vực - Trận chiến thực sự
GIỮA HAI ĐỈNH NÚI
Chương 14: Vòng khu vực - Trận chiến thực sự
Hội trường của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh không giống một phòng thi thông thường.
Nó giống một phòng xét xử hơn.
Ba dãy bàn cho đội thi xếp theo hình chữ U, đối diện với một bục cao nơi hội đồng giám khảo gồm năm người ngồi - trong đó có ba giáo sư từ Đại học Quốc gia và hai chuyên gia từ Viện Nghiên cứu Khoa học Xã hội. Bục cao hơn khoảng ba mươi phân so với mặt sàn - đủ để tạo ra cảm giác nhìn lên mà không cần ai dàn dựng. Ánh đèn trắng, rõ ràng, không nhân nhượng.
Khánh Vy bước vào phòng, nhìn qua không gian một lần - thói quen cô học được từ năm lớp mười khi cô bắt đầu thi học sinh giỏi: nhìn trước, định vị, sau đó mới ngồi xuống. Bốn đội khác đã có mặt. Đội từ trường THPT Lê Hồng Phong - đối thủ lớn nhất - ngồi ở vị trí góc trái, trông điềm tĩnh đến đáng ngờ. Đội từ THPT chuyên của tỉnh - đội có tên trong danh sách "tiềm năng vào chung kết" mà cô đọc được từ thông báo của Sở - ngồi cạnh đó.
Song Cường đã ngồi vào vị trí của họ.
Cô ngồi xuống bên cạnh anh. Không nói gì. Anh cũng không. Hai tập tài liệu được đặt xuống bàn - tập của anh gọn hơn, ít trang hơn nhưng mỗi trang dày đặc số liệu. Tập của cô dày hơn, khoảng cách dòng rộng hơn để tiện ghi chú trong lúc trình bày.
Cô nhìn hội đồng giám khảo.
Giáo sư ngồi giữa - người mà cô đọc được tên trên bảng tên là GS. Nguyễn Thanh Tùng, Đại học Quốc gia - có cái vẻ của người quen nhìn xuyên qua những bài trình bày được chuẩn bị kỹ lưỡng để tìm cái phần không chuẩn bị được bên dưới. Kính gọng đen, tóc bạc gần hết, ngồi thẳng với tư thế của người có nhiều năm ngồi hội đồng. Bên cạnh ông là PGS. Lê Minh Phước - người mà theo cô biết thì chuyên về phương pháp nghiên cứu định lượng trong khoa học xã hội.
Đây là những người không bị thuyết phục bởi văn phong hay trình bày đẹp. Họ ngồi ở đây để tìm lỗ hổng.
Tốt. Cô cũng không thích kiểu thi nào khác.
Phần trình bày kéo dài hai mươi lăm phút. Song Cường trình bày phần dữ liệu và phương pháp - giọng anh bình tĩnh đến mức phòng họp dường như lặng xuống thêm một bậc để nghe. Không có ngôn từ thừa. Mỗi câu là một đơn vị thông tin độc lập, chính xác, không phụ thuộc vào câu trước hay sau để hiểu. Cô đã nghe anh trình bày nhiều lần trong các buổi tập, nhưng lần này - trước hội đồng, dưới ánh đèn trắng - cô nhận ra rằng anh có một thứ mà rất ít người ở lứa tuổi này có: sự tự tin không xuất phát từ kiêu ngạo, mà xuất phát từ sự chuẩn xác.
Anh biết mình đúng. Không phải vì anh tự cao - mà vì anh đã kiểm tra.
Phần lý luận và phân tích ý nghĩa - đó là phần của cô. Cô trình bày với tốc độ chậm hơn anh một chút, không phải vì cô kém tự tin, mà vì cô biết rằng các giáo sư chuyên về xã hội học cần thời gian để "cảm" lập luận, không chỉ "hiểu" nó. Ngôn ngữ học thuật xã hội không vận hành hoàn toàn theo logic tuyến tính - nó vận hành theo mạng lưới, và cô cần cho người nghe thời gian để dệt mạng lưới đó trong đầu họ.
Hai mươi lăm phút kết thúc. Hội đồng gật đầu.
GS. Nguyễn Thanh Tùng mở tờ câu hỏi chuẩn bị sẵn.
Mười lăm phút đầu của phần phản biện diễn ra suôn sẻ theo nghĩa tương đối - những câu hỏi khó nhưng đều là loại khó mà cô và anh đã dự đoán và chuẩn bị. PGS. Lê Minh Phước hỏi về cỡ mẫu và vấn đề tổng quát hóa - Song Cường trả lời với độ chính xác khiến giáo sư gật đầu nhẹ, thứ cử chỉ tiết kiệm nhất của giới học thuật để biểu đạt sự hài lòng. Một chuyên gia khác hỏi về tính thiên lệch trong câu hỏi khảo sát - Khánh Vy trả lời, giải thích rõ quy trình kiểm tra độ tin cậy và tính giá trị của thang đo.
Rồi câu hỏi thứ ba đến.
Người đặt câu hỏi là người ngồi ngoài cùng bên phải - giáo sư trẻ nhất trong hội đồng, người duy nhất chưa nói gì. Cô nhớ tên ông từ danh sách: TS. Vũ Hải Long, chuyên ngành Xã hội học Giáo dục. Ông có vẻ ngoài bình thường đến mức cô gần như bỏ qua - nhưng giờ ông ngẩng lên và hỏi với giọng điềm tĩnh:
"Trong phần kết luận, nhóm đề xuất áp dụng mô hình phân tích này để dự báo hiệu quả can thiệp chính sách. Tôi muốn hỏi về cơ chế nhân quả - cụ thể, làm thế nào nhóm xác định rằng mối quan hệ trong mô hình là nhân quả, chứ không chỉ đơn thuần là tương quan? Và nếu chỉ là tương quan, thì đề xuất can thiệp chính sách có nghĩa lý gì?"
Im lặng.
Đây là loại câu hỏi được thiết kế như một chiếc bẫy. Không phải bẫy ác ý - đó là bẫy học thuật chính danh, kiểu câu hỏi mà hội đồng đặt ra để phân loại: những người hiểu thật sự với những người chỉ hiểu bề mặt.
Khánh Vy biết câu trả lời đúng. Cô cũng biết rằng nếu Song Cường trả lời theo hướng kỹ thuật - theo hướng anh được đào tạo để nghĩ - anh sẽ đi vào miền thống kê: nói về kiểm định nhân quả Granger, về phương pháp biến công cụ, về thiết kế nghiên cứu thực nghiệm. Về mặt kỹ thuật, những thứ đó không sai. Nhưng với một câu hỏi được đặt ra bởi một nhà xã hội học, câu trả lời kỹ thuật thuần túy sẽ bỏ qua một nửa quan trọng của vấn đề: mặt nhận thức luận.
Anh đang hít vào để bắt đầu trả lời.
Khánh Vy khẽ đặt bàn tay xuống bàn - không chạm vào anh, chỉ là cử chỉ trên mặt bàn, đủ để nằm trong vùng thị giác ngoại vi của anh - rồi cô lên tiếng một giây trước anh:
"Đây là câu hỏi về nhận thức luận trong nghiên cứu xã hội, và tôi nghĩ cần phân tách hai tầng."
Giọng cô không có sắc khẩn cấp - bình thản như thể đây là phần cô đã định trình bày. Cô tiếp:
"Đúng là mô hình của chúng tôi về bản chất là mô hình tương quan được kiểm soát - chúng tôi đã nói thẳng điều đó trong phần giới hạn nghiên cứu ở trang mười bảy. Nhưng trong khoa học xã hội ứng dụng, chúng tôi không đòi hỏi quan hệ nhân quả hoàn hảo trước khi đề xuất can thiệp - điều đó là không thể vì thiết kế thực nghiệm ngẫu nhiên hóa trong giáo dục bị ràng buộc bởi đạo đức nghiên cứu. Thay vào đó, chúng tôi dựa trên hai cơ sở: một là tính nhất quán của kết quả với lý thuyết được kiểm chứng từ trước, hai là mẫu quan sát đủ rộng và đa dạng để loại trừ nhiều giải thích thay thế. Những đề xuất chính sách của chúng tôi là có điều kiện - chúng tôi đề xuất thí điểm có kiểm soát, không phải áp dụng đại trà."
Một khoảnh khắc. GS. Nguyễn Thanh Tùng nhìn từ cô sang Song Cường rồi quay lại cô.
"Đồng ý với phân tầng vừa nêu," TS. Vũ Hải Long nói. "Cảm ơn nhóm đã làm rõ."
Phiên phản biện kết thúc năm phút sau đó.
Ra khỏi hội trường, cô và Song Cường đứng ở hành lang. Ánh nắng đầu giờ trưa chiếu qua dãy cửa sổ cao tạo thành những ô sáng dài trên nền gạch hoa.
Song Cường không nói gì trong vài giây.
Rồi: "Cô đã nghe câu hỏi đó theo hướng nhận thức luận từ đầu."
Không phải câu hỏi. Anh đang xác nhận những gì anh hiểu đã xảy ra.
"Ừ," cô nói. Ngắn gọn.
"Và cô tính rằng nếu tôi trả lời trước, tôi sẽ đi theo hướng kỹ thuật."
Cô im lặng một nhịp. "Tôi không chắc. Tôi chỉ thấy có một hướng rõ ràng hơn và tôi chọn cái đó."
Anh nhìn cô. Biểu cảm của anh phẳng lặng, nhưng trong đôi mắt có thứ gì đó đang được xử lý - cô không đọc ra hết.
"Kết quả tốt," anh nói cuối cùng. Quay lại nhìn vào hội trường qua ô cửa kính. "Chúng ta đã vượt qua."
Cô nhìn theo hướng anh nhìn.
"Ừ," cô nói. "Chúng ta đã vượt qua."
Trong cái chữ chúng ta đó - cô không biết từ khi nào nó trở nên tự nhiên đến vậy.
Trong một trận chiến thực sự, không phải người mạnh hơn mới thắng. Là người biết lúc nào cần tiến, lúc nào cần nhường bước - và biết phân biệt hai điều đó.